no comments

MS745 – Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến

MS745 – Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài:

Dẫn dắt giới thiệu chùm thơ thu và tác phẩm “ Câu cá mùa thu” của Nguyễn Khuyến.

2. Thân bài:

2.1 Tác giả, tác phẩm:

– Nguyễn Khuyến là một nhà nho nghèo học giỏi và đỗ đầu trong cả ba kì thi Hương, Hội, Đình. Ra làm quan rồi cáo quan về ở ẩn, dạy học và làm thơ, trong đó có tác phẩm “ Câu cá mùa thu”.

– Sống trong thời đại nhiều biến động đã ảnh hưởng không nhỏ đối với những sáng tác của Nguyễn Khuyến. Trong cảnh nước mất nhà tan, Nguyễn Khuyến mạnh dạn chĩa thẳng vào triều đình mục rỗng bằng một ngòi bút đả kích sâu cay. Đến khi cáo quan ở ẩn, thơ ông lại đong đầy hình ảnh thiên nhiên đất trời tươi đẹp, bình yên. Bài thơ “ Câu cá mùa thu” là một tác phẩm như thế. Ẩn sau thiên nhiên yên bình vẫn thấp thoáng tâm hồn thi nhân, một tâm hồn phản kháng dù tiêu cực nhưng vẫn đáng trân trọng về một con người không chịu khuất phục trước bọn cướp nước và bán nước.

2.2 Phân tích:

Hai câu đề:

– Hình ảnh “ ao thu lạnh lẽo nước trong veo” gợi ra không khí se se lạnh xung quanh ao làng buổi sáng mùa thu. Nước trong ao “ lạnh lẽo” nhưng lại vẫn “ trong veo”. Cảch giới hạn trong khoảng không ao làng chật hẹp nhưng gợi lên nét bình dị, thanh bình, quen thuộc của làng quê Việt Nam.

– Trên mặt ao thu xuất hiện “ một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.” Từ “ một chiếc” gợi lên sự cô đơn, lẻ loi của một chiếc thuyền bé nhỏ – “ bé tẻo teo”. Vần “ eo” liên tục được lặp đi lặp lại “ lạnh lẽo”, “ trong veo”, “ tẻo teo” tạo nên sự dồn nén về không gian.

Hai câu thực:

–  Là bức tranh quê đơn sơ mà lộng lẫy chỉ với hai mảng màu xanh biếc của sóng nước và màu vàng của lá thu. Câu thơ có gì đó ngồ ngộ, dễ thương. Ao thu không còn tĩnh lặng nữa mà đã nổi sóng.

– Sóng biếc từng đợt theo làn hơi gợn tí được đối rất chuẩn với hình ảnh “ lá vàng trước gió khẽ đưa vèo” làm nổi bật nét thu, tô đậm cảm nhận của nhà thơ.

– Từ “ vèo” gợi cảm giác chiếc lá rơi nghiêng diễn ra trong tâm thức nhà thơ với bức tranh thu đang khẽ lay động.

Hai câu luận:

– Không gian được mở rộng bởi bầu trời xanh ngắt thăm thẳm với từng tầng mây lơ lửng nhè nhẹ trôi thật thoáng đãng, êm đềm và thanh bình. Bầu trời xanh ngắt đã gợi ra cái sâu, cái lắng của không gian và cũng là cái nhìn vời vợi của nhà thơ.

– Xóm thôn vắng lặng, vắng teo với con đường quanh co không một bóng người qua lại “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”.

Hai câu kết:

– Xuất hiện hình ảnh con người câu cá với một tư thế nhàn:

“ Tựa gối ôm cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.”

+ “ Tựa gối ôm cần” là đang chờ đợi, nhưng đợi chờ lâu mà chẳng được. Rồi chợt, “cá đâu đớp động dưới chân bèo” khiến thi nhân chợt tỉnh.

+Âm thanh của cá càng khiến cho bài thơ im ắng vô cùng. Ba tiếng “đâu đớp động” vang lên chút thanh âm rồi lại đè xuống dưới sự áp chế mãnh liệt của vần “eo”. Nghệ thuật lấy động tả tĩnh đã làm cho cảnh vật càng vắng lặng trong một nỗi buồn bao trùm cả khung cảnh rộng lớn.

3. Kết bài.

Xuân Diệu đã nhận định: “Cái thú vị của bài “Thu điếu” ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi”… Tất cả điệu xanh, cảnh vật cùng âm thanh của tiếng lá rơi, tiếng cá”đớp động” chân bèo đã hoà quyện vào nhau tạo nên một bức tranh hài hòa cân đối, có một màu sắc rất riêng của làng quê Việt Nam. Tuy nhiên, cảnh êm đềm mà thấm thía một nỗi buồn toả ra từ tâm thế thi nhân an nhàn và thanh cao luôn trĩu nặng lòng yêu cảnh, yêu quê. Mỗi một nét thu, tiếng thu man mác tâm tình ấy là kết quả của một tài năng nghệ thuật điêu luyện trong cách vần thơ: veo – teo – vèo – teo – bèo, sử dụng phép đối, điệu thơ nhẹ nhàng bâng khuâng…tạo nên dư vị khó phai và sức sống của tác phẩm trong lòng người.

Bài văn tham khảo

Thời gian trôi qua như thoi đưa, phủ lên muôn vật một lớp bụi mờ và sàng lọc mọi giá trị cả vật chất lẫn tinh thần. Cho nên, không phải mọi giá trị hôm nay được ngưỡng mộ, tôn vinh đều đủ sức đeo bám con người vào thời kỳ mới. Thế nhưng, đi ngược lại với quy luật nghiệt ngã của thời gian, kỉ vật cuối cùng thi nhân Nguyễn Khuyến để lại cho hậu thế là ba bài thơ trong “ chùm thơ thu” vẫn còn sống mãi vẹn nguyên giá trị cho đến ngày hôm nay. Trong “ chùm thơ thu”, người đọc có lẽ ấn tượng nhất với bài thơ “ Câu cá mùa thu” hay còn gọi là “ Thu ẩm”.

Nguyễn Khuyến là một nhà nho nghèo sinh năm 1883, hiệu là Quế Sơn thuộc làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Nhà tuy nghèo nhưng ông vốn học giỏi và đỗ đầu trong cả ba kì thi Hương, Hội, Đình nên cái tên Tam Nguyên Yên Đổ cũng bắt đầu từ đó. Ra làm quan cho triều đình nhưng buồn vì không giúp được nước trong khuôn khổ của chế độ thực dân tàn nhẫn, bất công, năm 1883, ông cáo quan về ở ẩn, dạy học và làm thơ.

Sống trong thời đại nhiều biến động đã ảnh hưởng không nhỏ đối với những sáng tác của Nguyễn Khuyến. Trong cảnh nước mất nhà tan với một triều đình bù nhìn, hèn nhát, với những tên bán nước cầu vinh, với những kẻ quan tham từng ngày từng giờ đục khoét nhân dân,… Nguyễn Khuyến đã mạnh dạn chĩa thẳng vào những con người ấy bằng một ngòi bút đả kích sâu cay với các tác phẩm: “ Vịnh Kiều”, “ Ông Nghè tháng Tám”,… Đến khi cáo quan ở ẩn, được tiếp xúc với đời sống người nông dân, lánh xa thực tế đau buồn, hiện thực xấu xa, thơ ông lại đong đầy hình ảnh thiên nhiên đất trời tươi đẹp, bình yên. Bài thơ “ Câu cá mùa thu” là một tác phẩm như thế. Ẩn sau thiên nhiên yên bình vẫn thấp thoáng tâm hồn thi nhân, một tâm hồn phản kháng dù tiêu cực nhưng vẫn đáng trân trọng về một con người không chịu khuất phục trước bọn cướp nước và bán nước.

Mở đầu bài thơ, Nguyễn Khuyến đưa người đọc trở về chốn thôn quê trong tâm trạng một lão nông tri điền một mình câu cá trên chiếc thuyền nhỏ giữa một ao bèo nơi xóm làng thanh tĩnh:

“ Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.”

Hình ảnh “ ao thu lạnh lẽo nước trong veo” gợi ra cho người đọc một không khí se se lạnh xung quanh ao làng buổi sáng mùa thu. Có lẽ bởi mục đích là câu cá mùa thu nên cảnh được chú ý trước tiên là cái ao. Sau một mùa hạ nóng nực kéo dài, nước trong ao trở nên “ lạnh lẽo” nhưng lại vẫn “ trong veo” như có thể nhìn rõ rong rêu tận đáy. Cảch giới hạn trong khoảng không ao làng chật hẹp nhưng gợi lên nét bình dị, thanh bình, quen thuộc của làng quê Việt Nam.

Tự bao giờ, trên mặt ao thu đã xuất hiện “ một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.” Từ “ một chiếc” gợi lên chút gì đó cô đơn, lẻ loi của một chiếc thuyền bé nhỏ – “ bé tẻo teo”. Vần “ eo” liên tục được lặp đi lặp lại “ lạnh lẽo”, “ trong veo”, “ tẻo teo” tạo nên sự dồn nén về không gian trong cái khuôn khổ nhỏ nhất của nó. Trời thu đã sẵn khí lạnh giờ càng thêm lạnh bởi cái từ “lạnh lẽo”. Nước ao thu đã trong  nay lại càng thêm “trong veo”. Và khoảng trống rộng lớn càng làm cho chiếc thuyền câu nhỏ bé trong cụm từ “bé tẻo teo”.

Hai câu thơ tiếp theo tiếp tục là những nét vẽ tài hoa làm rõ thêm bức tranh cảnh thu:

“Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”.

Nguyễn Khuyến thật tài tình khi vẽ nên bức tranh quê đơn sơ mà lộng lẫy chỉ với hai mảng màu xanh biếc của sóng nước và màu vàng của lá thu. Câu thơ có gì đó ngồ ngộ, dễ thương. Ao thu không còn tĩnh lặng nữa mà đã nổi sóng với hai thanh trắc ở đầu câu (sóng biếc) và hai thanh trắc ở cuối câu (gợn tí). Sóng biếc từng đợt theo làn hơi gợn tí được đối rất chuẩn với hình ảnh “ lá vàng trước gió khẽ đưa vèo” làm nổi bật nét thu, tô đậm cảm nhận của nhà thơ về bức tranh thu khi lấy cái lăn tăn của sóng phối cảnh với độ bay xoay xoay khẽ đưa vèo của chiếc lá thu. Và ngay trong một từ “ vèo”, ta vẫn cảm nhận rõ như đó là một tiếng rơi nghiêng diễn ra trong tâm thức nhà thơ với bức tranh thu đang khẽ lay động.

Bức tranh thu yên ả, khẽ lay động và giờ lại được mở rộng dần ra qua hai câu thơ:

“ Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.”

Không gian được mở rộng bao la bởi bầu trời xanh ngắt thăm thẳm với từng tầng mây lơ lửng nhè nhẹ trôi thật thoáng đãng, êm đềm và thanh bình. Bầu trời xanh ngắt đã gợi ra cái sâu, cái lắng của không gian và cũng là cái nhìn vời vợi của nhà thơ, một lão nông đang câu cá. Từ bầu trời cao xanh, ông lão lại đưa mắt nhìn về bốn phía làng quê, một xóm thôn vắng lặng, vắng teo với con đường quanh co không một bóng người qua lại “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”.

Con đường không có người qua lại đến mức “ vắng teo” nghĩa là vắng đến không có một tiếng động nhỏ, gợi sự trống vắng, thoáng một nỗi buồn cô tịch, hiu hắt. Bao giờ cũng vậy, thơ Nguyễn Khuyến luôn xuất hiện hình ảnh cây trúc: “Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu” (Thu vịnh), “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo” bởi ông tâm niệm “Trúc dầu cháy đốt ngay vẫn thẳng”. Do đó câu thơ “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo” thể hiện sự đối lập giữa dáng trúc thẳng với nét đường làng quanh co tạo nên một bức tranh thu bâng khuâng, man mác tình quê.

Suốt sáu câu đầu “ Câu cá mùa thu” là cảnh vật bao la thấm đượm nỗi lòng man mác, đượm buồn trong cái yên tĩnh của ao thu, thuyền câu, sóng biếc,… Giờ đây đến câu thơ cuối, bức tranh thu mới hiện lên một hình ảnh khác là con người câu cá với một tư thế nhàn:

“ Tựa gối ôm cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.”

Con người “ tựa gối ôm cần” là đang chờ đợi, nhưng đợi chờ lâu mà chẳng được. Rồi chợt, “cá đâu đớp động dưới chân bèo” vang lên như tiếng thu của làng quê khiến thi nhân chợt tỉnh. Chỉ với một tiếng cá đớp động cũng đủ đánh thức cảnh vật đang im lìm đồng thời tạo nên sự đối lập khi cảnh vật ở trên là tĩnh lặng đến hoang vắng thì đến cuối bài thơ nó như bắt đầu vận động và sinh động hẳn lên. Nhưng chính cái sinh động ấy lại càng khiến cho bài thơ im ắng vô cùng. Ba tiếng “đâu đớp động” vang lên chút thanh âm rồi lại đè xuống dưới sự áp chế mãnh liệt của vần “eo”. Nghệ thuật lấy động tả tĩnh đã làm cho cảnh vật càng vắng lặng trong một nỗi buồn bao trùm cả khung cảnh rộng lớn.

Viết về “ Câu cá mùa thu”, Xuân Diệu đã nhận định: “Cái thú vị của bài “Thu điếu” ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi”… Tất cả điệu xanh, cảnh vật cùng âm thanh của tiếng lá rơi, tiếng cá”đớp động” chân bèo đã hoà quyện vào nhau tạo nên một bức tranh hài hòa cân đối, có một màu sắc rất riêng của làng quê Việt Nam. Tuy nhiên, cảnh êm đềm mà thấm thía một nỗi buồn toả ra từ tâm thế thi nhân an nhàn và thanh cao luôn trĩu nặng lòng yêu cảnh, yêu quê. Mỗi một nét thu, tiếng thu man mác tâm tình ấy là kết quả của một tài năng nghệ thuật điêu luyện trong cách vần thơ: veo – teo – vèo – teo – bèo, sử dụng phép đối, điệu thơ nhẹ nhàng bâng khuâng…tạo nên dư vị khó phai và sức sống của tác phẩm trong lòng người.

Bùi Thị Chung

Ứng dụng VĂN MẪU TỔNG HỢP trên điện thoại với hơn 30k bài văn mẫu hay nhất, giải bài tập SGK, soạn văn đầy đủ chi tiết. Hãy tải App ngay để chúng tôi phục vụ bạn tốt hơn nhé!

Nếu thấy bài viết hay, hãy động viên và chia sẻ ban biên tập! Các bình luận không phù hợp sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.