no comments

MS743 – Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa qua bài Tự tình II của Hồ Xuân Hương và Thương vợ của Trần Tế Xương

MS743 – Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa qua bài Tự tình II của Hồ Xuân Hương và Thương vợ của Trần Tế Xương

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài:

Dẫn dắt giới thiệu vấn đề nghị luận: Thân phận bạc mệnh của người phụ nữ trong xã hội xưa luôn là một đề tài bất tận cho các nhà văn, nhà thơ. Trong số đó phải kể đến Hồ Xuân Hương với tác phẩm “ Tự tình II” và Trần Tế Xương với “ Thương vợ”.

2. Thân bài:

2.1: Đôi nét về hình ảnh người phụ nữ trong văn học xưa:

– Là đề tài xuyên suốt văn học trung đại, là tiếng nói than thân đau xót của những phận người bé nhỏ, bất hạnh, đặc biệt là người phụ nữ.

– Chế độ phong kiến suy tàn mục nát đã vùi dập số phận người phụ nữ trong lễ giáo hà khắc, bất công. Họ không có quyền quyết định cuộc đời mình, mọi hạnh phúc, khổ đau đều phụ thuộc vào tay người khác.

=> Văn học thời kì này là tiếng nói cảm thông với số phận những người phụ nữ và tố cáo một xã hội mục rỗng, bất công. Trong đó có Hồ Xuân Hương với tác phẩm “Tự tình” và Trần Tế Xương với tác phẩm “ Thương vợ”.

2.2. Hình ảnh người phụ nữ qua hai tác phẩm:

Có thân phận nhỏ bé phải chịu nhiều đau khổ, gian truân:

– Nỗi đau của con người không được làm chủ số phận của mình trong “ Tự tình II”:

+ Cô độc, cô đơn, xấu hổ, bẽ bàng. “ Trơ” lại một “ cái hồng nhan” gợi lên sự mỉa mai, rẻ rúng cùng nỗi tủi hổ, bẽ bàng, cô đơn của một thân phận phụ nữ nhỏ bé và bất hạnh. ( hai câu đầu)

+ Xót xa, bẽ bàng, nỗi đau thân phận của nhân vật trữ tình:

“ Chén rượu hương đưa say lại tỉnh

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.”

Thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa như một vòng tròn luẩn quẩn. Mượn rượu để men cay làm quên sự đời, quên đi những tủi hổ, bẽ bàng nhưng, hơi rượu cũng không thể xua tan đi nỗi đau thân phận. Như vậy, uống rồi say, say rồi tỉnh, tỉnh rồi đau, đau rồi lại uống…

+ Đau bởi nhận thức rõ “ vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn” nghĩa là tuổi xuân sắp qua đi mà nhân duyên chưa trọn vẹn nên “ khuyết chưa tròn”. Dường như càng khao khát một hạnh phúc nhỏ nhoi, người phụ nữ càng xót xa, đau đớn cho phận mình.

-Người phụ nữ vất vả kiếm sống, tất bật ngược xuôi được thể hiện qua hình ảnh bà Tú trong” Thương vợ”:

+ “Quanh năm buôn bán ở mom sông”

Bà Tú phải làm việc vất vả suốt tháng suốt năm, không kể mưa nắng trên mom sông như một thân cò côi cút, tội nghiệp “Lặn lội thân cò khi quãng vắng”.

+ “ Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

Phải chen chúc, bươn chải, vật lộn trên sông nước của những người dân buôn bán với sự cạnh tranh đến mức sát phạt nhau nhưng cũng không thiếu lời qua tiếng lại. Vì cuộc sống mưu sinh, bà Tú phải chen chúc trên những chuyến đò đưa khách qua sông với biết bao chật hẹp, bấp bênh, chơi vơi.

=> Những vất vả, cực nhọc của bà Tú cũng là của những người phụ nữ Việt Nam xưa.

Vẻ đẹp tâm hồn:

– Trong “ Tự tình II”, người phụ nữ dù số phận đau đớn nhưng trái tim vẫn khát khao, hi vọng, không chịu khuất phục mà muốn vùng lên đấu tranh thay đổi cuộc sống:

+ ” Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.”

Thân phận người phụ nữ tuy nhỏ bé, tầm thường, vô dụng trong xã hội “ trọng nam khinh nữ” nhưng cũng mang sức mạnh phản kháng, đấu tranh đòi quyền sống, quyền hạnh phúc.

+ Không được sống với quyền lợi chân chính của mình. Cố ngoi đầu lên lại bị dìm xuống sâu hơn nữa. Cố phản kháng họ lại chuốc thêm đau buồn:

“ Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

Mối tình san sẽ tí con con.”

Chán chường, ngao ngán khi tuổi xuân con người ra đi mà không bao giờ trở lại.

+ Người phụ nữ khao khát hạnh phúc trọn vẹn nhưng cuối cùng chỉ còn lại sự xót xa của một thân phận hai lần làm lẽ với hạnh phúc không vẹn toàn:

“ Mảnh tình san sẻ tí con con.”

– Trong “ Thương vợ”, bà Tú hết lòng yêu thương, suốt đời một lòng, một dạ vì chồng con:

“Nuôi đủ năm con với một chồng”

+ Vất vả quanh năm để nuôi chồng con, còn phần mình thì không nghĩ tới.

=> Đảm đang.

+ Cam chịu, vị tha:

“ Một duyên hai nợ âu đành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công.”

=> Bài thơ kết lại bằng một tiếng chửi:

“ Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không.”

Đây là tiếng chửi ông Tú chửi thay cho vợ mình. Ông chửi chính mình “ ăn ở bạc”, “ hờ hững cũng như không”; chửi “ thói đời ăn ở bạc” là cả một xã hội thực dân phong kiến đầy bạc bẽo, chen lấn, ngang trái đã để những người dân lương thiện vào khổ sở, đói nghèo.

3. Kết bài:

Hai bài thơ đã nói hộ những người phụ nữ trong xã hội xưa về số phận đầy bất hạnh, cơ cực, lầm than và cả những phẩm chất cao đẹp. Từ đó, giúp người đọc trân trọng và có cái nhìn thương cảm hơn về người phụ nữ, đồng thời cũng trân trọng hơn những người phụ nữ của xã hội hiện đại.

Bài văn tham khảo

Nguyễn Du từng viết trong “ Truyện Kiều”:

“ Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.”

Thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa là vậy. Đã là phận đàn bà thì luôn luôn phải chịu đau khổ, bất công. Nguyễn Du đã viết về những con người ấy với bao xót thương, chua chát qua hai từ “ bạc mệnh”. Không chỉ ông viết về họ, trong dòng văn học xưa, Hồ Xuân Hương cùng với Trần Tế Xương cũng viết về những phận đàn bà qua hai tác phẩm “ Tự tình II” và “ Thương vợ”.

Văn học những năm từ thế kỉ mười bảy đến cuối thế kỉ mười chín là tiếng nói than thân đau xót của những phận người bé nhỏ, bất hạnh, đặc biệt là người phụ nữ. Bởi lẽ, trong thời đại ấy, chế độ phong kiến suy tàn mục nát đã vùi dập số phận người phụ nữ trong vũng bùn đau khổ bởi lễ giáo “trọng nam khinh nữ” hà khắc, của sự áp đặt “Tam tòng, tứ đức”. Họ hầu như không có quyền quyết định cuộc đời mình, mọi hạnh phúc, khổ đau đều phụ thuộc vào tay người khác. Tuy hồng nhan mà bạc mệnh, họ đa số đều có nhân cách cao đẹp song cuộc đời lại gặp đau khổ, bị vùi dập, tình duyên lận đận, phải chịu cuộc đời làm lẽ, làm thiếp… Cảm thông với số phận những người phụ nữ ấy, nhiều nhà văn nhà thơ đã thay họ nói lên tiếng lòng của mình. Trong đó có Hồ Xuân Hương với tác phẩm “Tự tình” và Trần Tế Xương với tác phẩm “Thương vợ”.

người phụ nữ Việt Nam là thân phận nhỏ bé phải chịu nhiều đau khổ, gian truân. Đó là nỗi đau của con người không được làm chủ số phận của mình trong “ Tự tình II”:

” Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non.”

Mở đầu bài thơ là âm thanh vang vọng, hối hả của trống canh dồn, âm thanh duy nhất trong đêm khuya vắng. Ở đây, tiếng trống không làm không gian thêm sôi động mà càng tôn lên cái tĩnh, cái cô độc, trống trải của đêm khuya, nó như đang thúc giục thời gian qua mau để “ trơ” lại “ cái hồng nhan với nước non”. “ Trơ” nghĩa là trơ trọi gợi lên nỗi cô đơn, cô độc nhưng cũng có nghĩa là trơ trẽn gợi lên nỗi xấu hổ, bẽ bàng. “ Trơ” lại một “ cái hồng nhan” gợi lên sự mỉa mai, rẻ rúng cùng nỗi tủi hổ, bẽ bàng, cô đơn của một thân phận phụ nữ nhỏ bé và bất hạnh.

Không chỉ cô đơn, buồn hổ, bài thơ còn thấm đượm nỗi xót xa, bẽ bàng, nỗi đau thân phận của nhân vật trữ tình:

“ Chén rượu hương đưa say lại tỉnh

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.”

Cụm từ “ say lại tỉnh” tạo nên một vòng luẩn quẩn cho câu thơ cũng là vòng luẩn quẩn của thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa. Mượn rượu để men cay làm quên sự đời, quên đi những tủi hổ, bẽ bàng nhưng, hơi rượu cũng không thể xua tan đi nỗi đau thân phận. Như vậy, uống rồi say, say rồi tỉnh, tỉnh rồi đau, đau rồi lại uống…

Ở đây, người phụ nữ đau bởi nhận thức rõ “ vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”. Hình ảnh ẩn dụ đầy sức gợi thể hiện rõ nỗi đau tột cùng của nhân vật trữ tình bởi tuổi xuân sắp qua đi như “ vầng trăng bóng xế” mà nhân duyên chưa trọn vẹn nên “ khuyết chưa tròn”. Dường như càng khao khát một hạnh phúc nhỏ nhoi, người phụ nữ càng xót xa, đau đớn cho phận mình.

Đến tác phẩm “ Thương vợ”, người đọc lại bắt gặp một hình ảnh khác của người phụ nữ, đó là con người vất vả kiếm sống, tất bật ngược xuôi được thể hiện qua hình ảnh bà Tú:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông”

Qua câu thơ hiện lên hoàn cảnh làm ăn vất vả, lam lũ của bà Tú. “ Quanh năm” nghĩa là bà Tú làm việc vất vả suốt tháng suốt năm, không kể mưa nắng trên mom sông như một thân cò côi cút, tội nghiệp. Con cò ấy không chỉ xuất hiện trong cái rợn ngợp của không gian “ mom sông” mà còn hiện lên trong cái rợn ngợp của thời gian “ quanh năm”. So sánh bà Tú với thân cò lặn lội đã góp phần tăng thêm nỗi vất vả, gian truân của bà và khơi dậy nỗi đau thân phận sâu sắc, thấm thía hơn:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

Câu thơ “ Eo sèo mặt nước buổi đò đông” gợi lên một sự chen chúc, bươn chải, vật lộn trên sông nước của những người dân buôn bán với sự cạnh tranh đến mức sát phạt nhau nhưng cũng không thiếu lời qua tiếng lại. Vì cuộc sống mưu sinh, bà Tú phải chen chúc trên những chuyến đò đưa khách qua sông với biết bao chật hẹp, bấp bênh, chơi vơi, bữa đực bữa cái. Trong ca dao có câu: “ Con ơi, mẹ dặn câu này, sông sâu chớ lội, đò đầy chớ sang”. Thế mà giờ đây, vì lo toan cuộc sống chồng con, người phụ nữ ấy đã bất chấp, liều lĩnh sang sông buổi đò đông. Chỉ qua vài câu thơ, nhà thơ Trần Tế Xương đã làm nổi rõ lên những vất vả, cực nhọc mà bà Tú cũng như những người phụ nữ Việt Nam xưa phải chịu đựng.

Tuy nhiên, vất vả, chán chường, sự khổ đau của cuộc sống vẫn không làm mất đi vẻ đẹp của những người phụ nữ. Họ như bông hoa sen sống giữa bùn lầy nhưng vẫn vươn lên tràn ngập sắc hương. Trong “ Tự tình II”, ta bắt gặp  hình ảnh người phụ nữ dù số phận đau đớn nhưng trái tim vẫn loé lên ánh lửa khát khao, hi vọng, không chịu khuất phục mà muốn vùng lên đấu tranh thay đổi cuộc sống:

” Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.”

Phép đảo ngữ đưa những động từ mạnh “ xiên ngang”, “ đâm toạc” lên đầu câu nhấn mạnh sự phẫn uất phản kháng của người phụ nữ. “ Rêu”, “ đá” là những vật vô tri, bé nhỏ, yếu mềm chính là thân phận người phụ nữ tuy nhỏ bé, tầm thường, vô dụng trong xã hội “ trọng nam khinh nữ” nhưng cũng mang sức mạnh phản kháng, đấu tranh đòi quyền sống, quyền hạnh phúc.

Quyền được sống, được tự do yêu đương và nhu cầu hạnh phúc là điều nhỏ nhoi mà bất kỳ người phụ nữ nào cũng được hưởng. Nhưng, chế độ xã hội xưa không cho phép họ được sống với quyền lợi chân chính của mình. Xã hội với tư tưởng “ trọng nam khinh nữ”, với quan niệm vạn đời bất biến “ trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”…đã ngang nhiên chà đạp lên cuộc đời người phụ nữ. Cố ngoi đầu lên họ lại bị dìm xuống sâu hơn nữa. Cố phản kháng họ lại chuốc thêm đau buồn:

“ Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

Mối tình san sẽ tí con con.”

Câu thơ thể hiện nỗi chán chường, ngao ngán khi tuổi xuân con người ra đi mà không bao giờ trở lại. “ Xuân” vừa là mùa xuân của đất trời vừa là tuổi xuân của con người. Cùng là “ xuân” thế nhưng xuân của đất trời đi rồi đến còn xuân của con người một đi không trở lại. Bởi thế, sao tránh khỏi nỗi đau buồn, tủi hổ!

Đã nhiều lần chính nhà thơ lên tiếng “ chém cha cái kiếp lấy chồng chung” nhưng rồi lại đau buồn bởi quy luật “ gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi” ( Nguyễn Du). Khao khát hạnh phúc trọn vẹn nhưng cuối cùng chỉ còn lại sự xót xa của một thân phận hai lần làm lẽ.

“ Mảnh tình san sẻ tí con con.”

Chỉ đơn độc, duy nhất một “ mảnh tình” nhưng cũng phải “ san sẻ” từng “ tí con con”. Tấm lòng cô độc mềm yếu nhưng cũng chẳng được vẹn toàn. Trong xã hội phong kiến, hạnh phúc với người phụ nữ như một chiếc chăn quá hẹp, người này ấm thì người kia lạnh “ kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng”…

Còn trong “ Thương vợ”, bà Tú lam lũ là thế nhưng đằng sau thân cò lặn lội là một hình ảnh người phụ nữ Việt Nam hết lòng yêu thương, suốt đời một lòng, một dạ vì chồng con:

“Nuôi đủ năm con với một chồng”

Câu thơ “ Nuôi đủ năm con với một chồng” như đè lên đôi vai bà Tú gánh nặng gia đình, phải quanh năm làm lụng nuôi con nuôi chồng. Năm con với một chồng tức là sáu người, một bên gánh nặng là năm con còn đầu bên kia là một chồng. Một người phải gánh sáu người, thế là nặng, phải gánh và gánh được, thế là đảm đang. Nhưng “nuôi đủ” tức là vừa đủ, chẳng thiếu cũng chẳng thừa. Vất vả quanh năm đến vậy mà cũng chỉ nuôi vừa đủ chồng con, còn phần mình thì không nghĩ tới. Đây mới thật là sự đảm đang của người phụ nữ, dù khó khăn có đè nặng nhưng vẫn lo chu toàn.

Không chỉ đảm đang, chịu khó, bà Tú còn hết mực cam chịu, vị tha:

“ Một duyên hai nợ âu đành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công.”

Lấy chồng, có con là một cái duyên không chỉ với bà Tú mà còn là duyên với ông Tú. Vậy nhưng, đặt chồng con là “ một duyên hai nợ” khiến câu thơ trở nên nặng nề, chua chát đến bao nhiêu. Điều đó cũng có nghĩa, duyên thì chỉ có một còn nợ thì những hai, tức là may mắn có một còn khổ đau thì gấp bội mà bà Tú cũng đành cam phận, vất vả đến mấy cũng chẳng đành quản công “ Năm nắng mười mưa dám quản công”. Để rồi, bao nhiêu đau khổ được kết lại bằng một tiếng chửi:

“ Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không.”

Đây là tiếng chửi ông Tú chửi thay cho vợ mình. Ông chửi chính mình “ ăn ở bạc”, chửi chính mình là chồng nhưng “ hờ hững cũng như không” khiến cho vợ thêm muôn phần cơ cực. Đồng thời, tiếng chửi ấy còn là chửi cả một cái “ thói đời ăn ở bạc” với biết bao bất công ngang trái. “ Thói đời ăn ở bạc” là cả một xã hội thực dân phong kiến đương thời đầy bạc bẽo, chen lấn, ngang trái đã để những người dân lương thiện vào khổ sở, đói nghèo.

Qua hai bài thơ “ Tự tình II” và “ Thương vợ”, Hồ Xuân Hương cùng Trần Tế Xương đã nói hộ những người phụ nữ trong xã hội xưa về số phận đầy bất hạnh, cơ cực, lầm than và cả những phẩm chất cao đẹp . Sinh ra gắn liền với hai chữ “ đàn bà”, cuộc đời họ đã được định sẵn là bạc mệnh, đớn đau. Nhưng bằng sức sống bền bỉ và tâm hồn đẹp đẽ, họ vẫn không ngừng hi vọng và đấu tranh cho một tương lai tốt đẹp hơn. Từ hình ảnh Hồ Xuân Hương mạnh mẽ trước số phận hay hình ảnh bà Tú đảm đang, chịu khó đã mang đến cho người đọc sự trân trọng và cái nhìn thương cảm hơn về người phụ nữ, đồng thời cũng trân trọng hơn những người phụ nữ của xã hội hiện đại.

Bùi Thị Chung

Ứng dụng VĂN MẪU TỔNG HỢP trên điện thoại với hơn 30k bài văn mẫu hay nhất, giải bài tập SGK, soạn văn đầy đủ chi tiết. Hãy tải App ngay để chúng tôi phục vụ bạn tốt hơn nhé!

Nếu thấy bài viết hay, hãy động viên và chia sẻ ban biên tập! Các bình luận không phù hợp sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.