no comments

MS054 – Phân tích bài thơ Đò lèn của Nguyễn Duy

MS054 – bài thơ Đò lèn của Nguyễn Duy

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài:

Nguyễn Duy là nhà thơ sáng tác từ rất sớm. Giọng thơ của ông mộc mạc, giản dị và gần gũi. Thơ của ông nhẹ nhàng, đằm thắm khiến cho người đọc dường như có thể hít thở được cả không khí trong thơ của ông.

Những bài thơ nổi tiếng của Nguyễn Duy thường được đưa vào chương trình sách giáo khoa ví dụ như bài “” trong chương trình tiểu học, “Ánh Trăng” trong chương trình trung học cơ sở hay bài “Đò Lèn” trong chương trình trung học phổ thông. Chính nhờ sự gần gũi, giản dị mà chứa nhiều bài học quý báu mà thơ ông được lựa chọn để truyền tải những thông điệp tốt đẹp đến với học sinh.

Bài thơ “Đò Lèn” được viết vào năm 1983 trong một dịp trở về thăm quê hương. Viết về tình cảm của tác giả dành cho người bà đã mất của mình bằng cảm xúc tiếc nuối và ăn năn. Thông điệp chính của bài thơ muốn nhắn nhủ đến người đọc rằng hãy biết quý trọng những yêu bên cạnh mình, đừng để những thứ đam mê phù phiếm ngoài xã hội che mờ mắt và lãng quên đi người luôn hy sinh và dành cho mình những điều tốt đẹp nhất.

2. Thân bài:

Mở đầu bài thơ là những hồi ức của cậu bé Duy thuở nhỏ. Những hình ảnh rất hồn nhiên, tinh nghịch vô tư đến mức vô tâm. Đó là những hồi ức có lẽ không chỉ riêng của nhà thơ mà còn là của rất nhiều đứa trẻ nông thôn khác.

  • trò chơi trẻ thơ: câu cá, bắt chim, đi chợ với bà, hái trộm nhãn,…
  • Mê mẩn một thế giới ảo, một thế giới thần tiên, thánh thần: thích đi chơi đền, chùa, thích các lễ hội và những buổi hầu đồng vui nhộn và đầy màu sắc. Trẻ con thì chỉ mê những cái cao siêu và những cái đẹp còn bỏ quên những vẻ giản dị nhưng đẹp đẽ trăm lần xung quanh.

Sử dụng cách nhìn mới trong thơ, Tác giả không chỉ là hồi tưởng về tuổi thơ của mình mà còn dùng ánh mắt của người thanh niên đã trải qua những đắng cay của cuộc đời, một thanh niên đã dày dạn gió sương nhờ môi trường quân đội để nhìn về tuổi thơ song hành với những hình ảnh của người bà lam lũ.

Tuổi thơ ông hạnh phúc biết bao nhiêu thì hình ảnh bà cơ cực lam lũ bấy nhiêu: mò cua xúc tép, buôn gánh bán bưng: chè, cháo, trứng gà,… Có khi đói phải ăn củ dong luộc sượng cầm hơi.

Thời ấu thơ ngây ngô dại dột tác giả không biết thương những lam lũ cơ cực của bà, chỉ mải mê chạy theo vui thích trẻ con. Yêu thích cái đẹp xa vời. Ngay cả khi chiến tranh ập đến, đói kém quanh năm vẫn chỉ mải mê theo đuổi “mùi huệ trắng hương trầm”.

Nhưng đến khi nhận ra lúc con người rơi vào loạn lạc và khó khăn nhất, chẳng có thần thánh nào ở bên chở che mình mà chỉ có một người bà mặc cho mưa bom bão đạn vẫn tìm cách để nuôi cháu lớn khôn. Khi nhận thức ra điều đó thì người bà cũng đã mãi mãi ra đi.

Xem thêm:  Trình bày suy nghĩ về câu nói: Người người đều muốn thay đổi thế giới, nhưng ai cũng không muốn thay đổi chính mình

Bốn câu thơ cuối tràn ngập nỗi niềm nhớ thương và ân hận của người cháu dành cho bà. Con người chúng ta là vậy, lúc còn có thì không trân trọng, lúc mất rồi mới tiếc nuối.

3. Kết bài:

Mặc dù bài thơ không sử dụng quá nhiều thủ pháp nghệ thuật. Nhưng từng câu từng chữ lại vô cùng giản dị. Ý thơ nhẹ nhàng đi vào lòng người, dễ dàng tìm được tiếng nói chung giữa nhà thơ và người đọc.

Bài thơ không chỉ là sự trải lòng của tác giả mà còn như một bài học về đạo đức. Về tình cảm . Nhắc nhở những con người chúng ta sống biết suy nghĩ và biết quý trọng những hạnh phúc giản dị mà chúng ta đang được hưởng, đừng mải mê theo đuổi những giấc mơ phù phiếm.

Bài văn tham khảo

Có rất nhiều tác phẩm văn học của văn nghệ sĩ trong phong trào thơ mới được đưa vào chương trình như Tố Hữu, Bằng Việt, Trần Đăng khoa,… Nhưng nhắc đến tác giả có những bài thơ nhẹ nhàng nhưng sâu sắc. Vừa đơn giản dễ hiểu nhưng chứa đựng nhiều chiêm nghiệm thì không thể bỏ qua những bài thơ của Nguyễn Duy. Chính nhờ sự gần gũi, giản dị mà chứa nhiều bài học quý báu mà thơ ông được lựa chọn để truyền tải những thông điệp tốt đẹp đến với học sinh.

Nói đến hỏi thử ai không nghêu ngao đôi ba câu:

“Tre xanh

Xanh tự bao giờ?

Chuyện ngày xưa… đã có bờ tre xanh”

Thơ của Nguyễn Duy mộc mạc, giản dị. Những lời văn gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày nên thông điệp truyền tải trong thơ ông khiến ai cũng có thể hiểu một cách dễ dàng.

Nhìn chung trong thơ của Nguyễn Duy luôn có một cảm xúc hoài niệm. Ông lưu giữ những cái quý giá của quá khứ và khiến người ta trân trọng những giá trị có được ở hiện tại. Trong những tác phẩm nổi tiếng của mình thì bài thơ “Đò Lèn” là một trong những bài thơ tiêu biểu và chứa đựng cảm xúc nhiều nhất của tác giả đối với những trải nghiệm chân thực nhất của ông.

Bài thơ “Đò Lèn” được viết vào năm 1983 trong một dịp trở về thăm quê hương. Viết về tình cảm của tác giả dành cho người bà đã mất của mình bằng cảm xúc tiếc nuối và ăn năn. Thông điệp chính của bài thơ muốn nhắn nhủ đến người đọc rằng hãy biết quý trọng những người thân yêu bên cạnh mình, đừng để những thứ đam mê phù phiếm ngoài xã hội che mờ mắt và lãng quên đi người luôn hy sinh và dành cho mình những điều tốt đẹp nhất.

Tuổi thơ chúng ta ai cũng đã từng gặp được bà tiên ông bụt, mơ mộng được vào một thế giới siêu thực để thỏa thích vui chơi và sống thật hạnh phúc. Và nhà thơ Nguyễn Duy thời thơ ấu cũng không khác gì những đứa trẻ khác trong số chúng ta. Cả thanh xuân mê mải chạy theo những trò vui chơi như: câu cá, bắt chim, đi chợ với bà, hái trộm nhãn,…

Đâu chỉ có trẻ con mới thích đi đây đi đó khám phá những điều mới mẻ. Mảnh sân nhà không chứa nổi ước mơ tìm hiểu về thế giới. Tuổi nhỏ thì ham vui và thích thú được đi chơi khắp nơi. Với cậu bé Duy thuở nhỏ thì  thích đi chơi đền, chùa, thích các lễ hội và những buổi hầu đồng vui nhộn và đầy màu sắc. Lớn lên một chút như tất cả chúng ta thì ai cũng muốn khám phá những thành phố mới, những mảnh đất mới. Con người chúng ta là vậy, không bao giờ thỏa mãn với những thứ mà mình nhìn thấy mỗi ngày. Cái gì nhìn mãi cũng trở nên tầm thường.

Xem thêm:  Phân tích tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” hay ngắn gọn văn lớp 9

Trong nhân gian có lưu truyền một câu tục ngữ rất hay đó là “Bụt chùa nhà không thiêng”Câu tục ngữ có nội dung biểu hiện là những người quen biết nhau, chung đụng với nhau hàng ngày thì dễ xem thường nhau. Trong khi cậu bé Duy dành cả thanh xuân để tìm mơ gặp được thánh, Phật, thần tiên thì cậu bé không ngờ rằng người bên cạnh mình mỗi ngày còn có phẩm chất phi thường hơn cả thần Phật. Bằng cách sử dụng cách nhìn mới trong thơ, Tác giả không chỉ là hồi tưởng về tuổi thơ của mình mà còn dùng ánh mắt của người thanh niên đã trải qua những đắng cay của cuộc đời, một thanh niên đã dày dạn gió sương nhờ môi trường quân đội để nhìn về tuổi thơ song hành với những hình ảnh của người bà lam lũ. Nguyễn Duy mới nhận ra rằng trong khi ông mải vui với những thứ không thực ngoài kia thì người nuôi ông lớn lên, người che chở cho ông chỉ có một mình bà mà thôi. Thời thơ bé của ông còn ngốc nghếch đến độ “cái năm đói củ dong riềng luộc sượng/ cứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm” – trong lúc cơn đói cận kề vẫn chỉ mơ được bà tiên ông bụt ban cho đồ ăn thức uống, ban cho điều phi thường mà không hề biết cảm thương cho người bà đang bên cạnh chia ngọt sẻ bùi với mình.

Người bà của tác giả chính là hình ảnh chung của người phụ nữ Việt Nam một đời hy sinh vì gia đình, vì con vì cháu mà không bao giờ than trách. Phẩm chất “tam tòng tứ đức” điển hình cho người phụ nữ. Lúc còn ở với cha mẹ thì hi sinh vì cha mẹ, vì gia đình. Lấy chồng thì tảo tần lo lắng cho chồng cho con cái. Tưởng lúc về già được hưởng phước từ con từ cháu nhưng nào ngờ tuổi xế chiều mà còn gánh kiếp “con mọn” – nuôi trẻ con. Không chỉ nuôi trẻ con mà còn phải chạy cơm từng bữa khi tuổi đã già bằng đủ việc như mò cua xúc tép, buôn gánh bán bưng: chè, cháo, trứng gà,… Có khi đói phải ăn củ dong luộc sượng cầm hơi.

Mọi chuyện có lẽ sẽ cứ mãi trong mơ đối với cậu bé Duy nếu như sự tàn khốc của chiến tranh không đến. Những thần Phật, thánh thần đã từng là chỗ dựa tinh thần, đã từng là đấng tối cao che chở cho ước mơ siêu thực của cậu bé cùng với mưa bom bão đạn mà biến đi mất. Người duy nhất không bỏ rơi cậu bé đó chính là người bà. Người mà có lẽ đối với Nguyễn Duy ngày đó không được đẹp và thơm như “hoa huệ hương trầm” nhưng nay ở bên cậu bé một cách giản dị và phi thường hơn bất cứ thần thánh nào.  Bom đạn có thể đánh đổ đền, chùa, thánh, Phật… nhưng không quật ngã nổi tinh thần của bà.

Xem thêm:  Phân tích bài ca dao Tát nước đầu đình để làm rõ nhận định ca dao là viên ngọc không tì vết

Bom Mỹ dội, nhà bà tôi bay mất

đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền

thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết

bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn

Bốn câu thơ tuy giản dị và có pha chút dí dỏm theo giọng điệu của trẻ con nhưng lại lột tả được vẻ đẹp phi thường của người bà. Dù bà không có phép thuật, cũng không đi mây về gió, không dời sông lấp bể được nhưng bà lại là người không chút sợ hãi trước bom đạn của chiến tranh. Vì cháu, vì miếng ăn hằng ngày mà dù cho mưa bom bão đạn bà vẫn lam lũ kiếm sống.

Người bà của tác giả được kể lại bằng giọng thơ vô cùng kính trọng, người đọc có thể được người bà như một bà tiên đối với cuộc đời tác giả. Và khi tác giả đã đủ lớn khôn thì bà tiên ấy cũng rời đi. Một cái kết buồn như câu chuyện cổ tích ở đâu đó mà chúng ta đã từng đọc được.

Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại

dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi

khi tôi biết thương bà thì đã muộn

bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!

Bốn câu thơ cuối tràn ngập nỗi niềm nhớ thương và ân hận của người cháu dành cho bà. Con người chúng ta là vậy, lúc còn có thì không trân trọng, lúc mất rồi mới tiếc nuối. Bây giờ đây khi cậu bé đủ trưởng thành để nhìn nhận cuộc sống thì mọi thứ mà cậu thuở nhỏ từng coi là to lớn vĩ đại, từng coi là tất cả đều đã trở thành thứ bình thường. Dòng tuần hoàn của của đời người không ai tránh khỏi được “dòng sông kia vẫn bên lở bên bồi”. Những thứ xưa kia gắn bó với tác giả vẫn còn đó nhưng chỉ một thứ duy nhất đã mãi mãi rời xa ông đó là hình ảnh người bà tảo tần, lam lũ.

Mặc dù bài thơ không sử dụng quá nhiều thủ pháp nghệ thuật. Nhưng từng câu từng chữ lại vô cùng giản dị. Ý thơ nhẹ nhàng đi vào lòng người, dễ dàng tìm được tiếng nói chung giữa nhà thơ và người đọc.

Bài thơ không chỉ là sự trải lòng của tác giả mà còn như một bài học về đạo đức. Về tình cảm gia đình. Nhắc nhở những con người chúng ta sống biết suy nghĩ và biết quý trọng những hạnh phúc giản dị mà chúng ta đang được hưởng, đừng mải mê theo đuổi những giấc mơ phù phiếm.

Nguyễn Thị Yến

Ứng dụng VĂN MẪU TỔNG HỢP trên điện thoại với hơn 30k bài văn mẫu hay nhất, giải bài tập SGK, soạn văn đầy đủ chi tiết. Hãy tải App ngay để chúng tôi phục vụ bạn tốt hơn nhé!

Nếu thấy bài viết hay, hãy động viên và chia sẻ ban biên tập! Các không phù hợp sẽ bị cấm vĩnh viễn.